Nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ dương tính giả của xét nghiệm NIPT

Nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ dương tính giả của xét nghiệm NIPT

Xét nghiệm NIPT – sàng lọc trước sinh không xâm lấn là xét nghiệm sàng lọc được sử dụng để xác định thai nhi có mắc một số bệnh lý di truyền hay không. Hiệp Hội sản phụ khoa Hoa Kỳ ACOG khuyến cáo tất cả phụ nữ mang thai đều nên thực sàng lọc NIPT bất kể có yếu tố nguy cơ hay không. NIPT là một bước tiến lớn so với các xét nghiệm sàng lọc truyền thống bằng huyết thanh mẹ, giúp giảm tỷ lệ các trường hợp cần chỉ định chẩn đoán trước sinh xâm lấn. Mặc dù có độ chính xác cao, tuy nhiên NIPT chỉ là xét nghiệm sàng lọc mà không phải xét nghiệm chẩn đoán xác định về tình trạng di truyền mà thai nhi mắc phải. 

Do bản chất xét nghiệm NIPT dựa vào việc phân tích cffDNA – DNA tự do phóng thích từ bánh nhau do đó vẫn có tỉ lệ nhất định đưa ra kết quả dương tính giả hoặc âm tính giả. Dưới đây là một số nguyên nhân gây dương tính giả phổ biến:

Hiện tượng khảm khu trú bánh nhau

Khảm khu trú nhau thai hay khảm khu trú bánh nhau đề cập đến tình trạng nhau thai mang các dòng tế bào có bất thường di truyền, nhưng thai nhi hoàn toàn bình thường. Tình trạng này xảy ra ở 2-3% trường hợp mang thai và có thể gây ra kết quả NIPT dương tính giả, vì DNA tự do được phân tích trong xét nghiệm NIPT có bản chất là DNA phóng thích từ bánh nhau, lưu thông trong máu mẹ. 

Hội chứng song thai tiêu biến

Hội chứng mất thai đôi (Vanishing Twin Syndrome – VTS) được mô tả lần đầu vào năm 1976, là tình trạng một trong hai thai nhi trong cùng một thai kỳ đa thai tiêu biến, thường gặp nhất trong 3 tháng đầu thai kì. Tỷ lệ VTS đã được chứng minh là dao động từ 10-39% trong các trường hợp mang thai IVF. Tình trạng lệch bội thai nhi là nguyên nhân chính gây tiêu biến/mất tim thai ở cặp song sinh trong VTS và do đó có thể gây ra kết quả NIPT bất thường không phù hợp với bộ gen của thai nhi còn sống. Thai nhi bị tiêu biến có thể giải phóng cfDNA vào huyết tương của mẹ ít nhất 8 tuần và có thể lên đến 15 tuần sau khi ngừng phát triển. Một số nghiên cứu cho thấy VTS chiếm 15% các nguyên nhân gây kết quả NIPT dương tính giả.

Tình trạng khảm từ mẹ

Hầu hết các công nghệ NIPT sẵn có trên thị trường đều không thể phân biệt được nguồn gốc cfDNA từ mẹ và nhau thai (trừ phương pháp SNP – Single Nucleotide Polymorphisms – đa hình nucleotide đơn), do vậy các bất thường có nguồn gốc từ mẹ có thể gây ra kết quả sàng lọc NIPT dương tính giả. Lệch bội nhiễm sắc thể giới tính (SCA) là kết quả sàng lọc phổ biến nhất được phát hiện là do khảm ở mẹ và có 8.6% trong số tất cả kết quả SCA nguy cơ cao là do kiểu nhân nhiễm sắc thể X bất thường ở mẹ.

U xơ tử cung

U xơ tử cung (u cơ trơn tử cung) là khối u vùng chậu phổ biến nhất ở phụ nữ và xuất hiện ở khoảng 11% phụ nữ mang thai. U xơ tử cung có đặc điểm là đơn dòng, bao gồm các tế bào có cùng bộ gen và khoảng 50% các khối u xơ này có bất thường số lượng nhiễm sắc thể. DNA tự do mang các bất thường di truyền có nguồn gốc từ các khối u xơ tử cung giải phóng vào máu là một trong các nguyên nhân gây ra kết quả NIPT dương tính giả.

Bệnh lý ác tính ở mẹ

Yếu tố từ mẹ ảnh hưởng nhiều nhất đến độ chính xác của kết quả NIPT dương tính là sự xuất hiện của DNA tự do phóng thích khối u ác tính của mẹ. Hầu hết lượng DNA tự do lưu thông trong huyết tương thai phụ có nguồn gốc từ các tế bào của mẹ (khoảng 85-90%) chứ không phải từ nhau thai, và nồng độ này tăng đáng kể khi cơ thể thai phụ có khối u ác tính giải phóng DNA tự do. Một số khuyến cáo chỉ ra để kiểm soát yếu tố gây dương tính giả này là thai phụ nên được thăm khám lâm sàng kỹ lưỡng trước khi mang thai cũng như chia sẻ về tình trạng bệnh lý, tiền sử gia đình là vô cùng quan trọng để kế hoạch quản lý thai kỳ được thực hiện một cách chính xác nhất.

Tài liệu tham khảo:

  1. Raymond Y, Fernando S, Menezes M, et al. Placental, maternal, fetal, and technical origins of false-positive cell-free DNA screening results. American Journal of Obstetrics & Gynecology. 2024;230(4):381-389. doi:10.1016/j.ajog.2023.11.1240
  2. Hui L, Ellis K, Mayen D, et al. Position statement from the International Society for Prenatal Diagnosis on the use of non-invasive prenatal testing for the detection of fetal chromosomal conditions in singleton pregnancies. Prenatal Diagnosis. 2023;43(7):814-828. doi:10.1002/pd.6357
Chia sẻ bài viết
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments
icon_zalo
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x
Call Now Button