Bệnh Thalassemia: Triệu Chứng, Nguyên Nhân & Phòng Ngừa

Bệnh Thalassemia: Triệu Chứng, Nguyên Nhân & Phòng Ngừa

Thalassemia (tan máu bẩm sinh) bệnh di truyền phổ biến tại Việt Nam, gây nhiều hệ lụy sức khỏe. Biomics Vietnam cung cấp thông tin chi tiết về căn bệnh này, từ nguyên nhân, triệu chứng đến các biện pháp chẩn đoán và phòng ngừa hiện đại.

Bệnh Thalassemia là gì?

Thalassemias (hay còn gọi là tan máu bẩm sinh) là một nhóm các bệnh thiếu máu tan máu di truyền hồng cầu nhỏ, đặc trưng bởi sự khiếm khuyết trong tổng hợp huyết sắc tố (Hb). Là bệnh di truyền có tỷ lệ cao nhất trên thế giới. Ở Việt Nam, tan máu bẩm sinh Thalassemia thể Alpha là một vấn đề y tế công cộng quan trọng.

Tỷ lệ người mang gen bệnh Thalassemia nói chung và tan máu bẩm sinh Thalassemia thể Alpha nói riêng thuộc dân tộc Kinh ước tính khoảng từ 2% đến 4%. Trong khi đó, ở các dân tộc thiểu số sống ở các khu vực miền núi của Việt Nam, tỷ lệ này cao hơn nhiều. 

Triệu chứng của bệnh Thalassemia

Bệnh tan máu bẩm sinh có nhiều mức độ lâm sàng khác nhau gồm:

  • Mức độ rất nặng: phù thai, thai nhi thường tử vong trước hoặc ngay khi sinh
  • Mức độ nặng và trung bình: bệnh nhân có các biểu hiện lâm sàng chung như: Thiếu máu (trung bình đến nặng); Hoàng đảm; Lách to, gan to; Chậm phát triển thể chất; Biến dạng xương (xương sọ, xương mặt, …); Rối loạn nội tiết: đái đường, suy giảm chức năng sinh dục, …; Xơ gan, suy gan; Suy tim, rối loạn nhịp tim…
  • Mức độ nhẹ: người bệnh chỉ bị thiếu máu nhẹ (dễ bị chẩn đoán nhầm với các bệnh lý khác như thiếu máu thiếu sắt);

Người mang gen bệnh tan máu bẩm sinh không có biểu hiện lâm sàng, có thể không thiếu máu. 

Ai có nguy cơ mắc bệnh Thalassemia

Bệnh tan máu bẩm sinh, hay còn gọi là bệnh thalassemia, có nguy cơ cao ở những nhóm đối tượng sau:

Người có gia đình có tiền sử bệnh thalassemia

Nếu trong gia đình có người mắc bệnh thalassemia, hoặc nếu cả hai bố mẹ đều mang gen bệnh, nguy cơ sinh con bị bệnh là rất cao. Bệnh thalassemia di truyền theo kiểu lặn, có nghĩa là cả hai bố mẹ phải mang gen bệnh thì con cái mới có nguy cơ mắc bệnh.

Người thuộc các nhóm dân tộc có tỷ lệ mắc bệnh cao

Thalassemia phổ biến ở các khu vực như vùng Địa Trung Hải, Đông Nam Á, Trung Đông, Nam Á (bao gồm Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Thái Lan) và một số dân tộc ở châu Phi. Các nhóm dân tộc này có tỷ lệ mang gen bệnh cao hơn so với những khu vực khác trên thế giới.

Người có tổ tiên từ các khu vực có tỷ lệ mắc bệnh cao

Người có nguồn gốc từ các quốc gia hoặc khu vực có tỷ lệ mắc bệnh thalassemia cao cũng có nguy cơ di truyền bệnh. Do đó, nếu một người có tổ tiên đến từ những khu vực này, họ cần được sàng lọc gen để xác định xem có mang gen bệnh hay không.

Người mang gen bệnh thalassemia

Những người mang gen bệnh (gen bệnh thalassemia, nhưng không có triệu chứng bệnh) có thể truyền gen này cho con cái của họ. Họ có thể không biết mình là người mang gen cho đến khi xét nghiệm di truyền hoặc sàng lọc trước khi mang thai.

Các thể thalassemia thường gặp

Có hai thể Thalassemia chính là Alpha-Thalassemia (Thiếu chuỗi alpha) và Beta-Thalassemia (Thiếu chuỗi beta). Ở cả 2 thể bệnh này đều có 3 mức độ lâm sàng là nặng, trung bình và nhẹ.

Alpha thalassemia

Alpha-thalassemia là tình trạng giảm sản xuất chuỗi alpha-polypeptit do mất đi một hoặc nhiều gen alpha. Thông thường, mỗi người có tổng cộng 4 gen alpha (mỗi nhiễm sắc thể chứa 2 gen) vì gen alpha được nhân đôi. Việc phân loại bệnh dựa trên số lượng gen bị mất như sau:

  • Thalassemia thể Alpha +: Mất một gen trên một nhiễm sắc thể (alpha/–)
  • Thalassemia thể Alpha 0: Mất cả hai gen trên cùng một nhiễm sắc thể (-/-)

Beta thalassemia

Beta-thalassemia xảy ra khi khả năng sản xuất chuỗi beta-polypeptit bị suy giảm do đột biến gen hoặc mất gen quy định chuỗi beta, ảnh hưởng đến quá trình tạo Hemoglobin (Hb) A. Các bất thường di truyền này có thể dẫn đến việc mất một phần (beta +) hoặc mất hoàn toàn (beta 0) chức năng của beta globin. Mỗi người có 2 gen beta globin, và tình trạng bệnh có thể ở dạng dị hợp tử, đồng hợp tử hoặc dị hợp tử phức hợp.

Ngoài ra, một số trường hợp có thể mang đồng thời đột biến trên hai loại gen globin khác nhau (như beta và delta). Một thể ít gặp hơn là Beta-delta-thalassemia, khi cả chuỗi delta và beta đều bị giảm sản xuất. Các đột biến này cũng có thể tồn tại ở dạng dị hợp tử hoặc đồng hợp tử.

Nguyên nhân gây bệnh tan máu bẩm sinh

Nguyên nhân tan máu bẩm sinh do bất thường hoặc có đột biến ở các gen liên quan đến việc sản xuất ra hemoglobin. Đây là một bệnh di truyền lặn, đồng nghĩa với việc bố mẹ mang gen nhưng không biểu hiện bệnh, nhưng khi người con nhận cả 2 gen bất thường của bố mẹ thì sẽ biểu hiện bệnh. 

Chẩn đoán và xét nghiệm bệnh thalassemia

Để phát hiện sớm và phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh Thalassemia, các cặp vợ chồng nên thực hiện xét nghiệm tiền hôn nhân hoặc sàng lọc di truyền trước sinh.

Hiện nay, Biomics Vietnam đã triển khai dịch vụ xét nghiệm Carrier (người mang gen bệnh) bằng phương pháp giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) kết hợp với long-range PCR, giúp khảo sát đồng thời 11 gen liên quan đến 10 bệnh lý di truyền đơn gen lặn phổ biến ở người Việt Nam. Trong số này có xét nghiệm phát hiện bệnh tan máu bẩm sinh thể Alpha và thể Beta — hai dạng Thalassemia thường gặp nhất.

Tan máu bẩm sinh có nguy hiểm không?

Tan máu bẩm sinh là một bệnh lý di truyền nguy hiểm với mức độ biểu hiện từ nhẹ đến nặng. Trong trường hợp nặng nhất, bệnh có thể gây tình trạng phù thai hoặc thai chết lưu ngay từ khi còn trong bụng mẹ. Với những bệnh nhân mắc thể nặng, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào việc truyền máu định kỳ và điều trị thải sắt suốt đời.

Ngoài ra, người bệnh có nguy cơ gặp phải nhiều biến chứng nghiêm trọng như suy gan, suy tim, rối loạn nội tiết, biến dạng khuôn mặt, xơ gan, khó khăn trong sinh sản và thậm chí tử vong.

Theo báo cáo ghi nhận từ năm 2001 đến nay, chất lượng sống của bệnh nhân tan máu bẩm sinh rất thấp, tỷ lệ tử vong cao. Thống kê cho thấy khoảng 20% bệnh nhân tử vong ở độ tuổi từ 6 đến 7 tuổi. Đặc biệt, phần lớn những trường hợp mắc bệnh thể nặng thường không có cơ hội lập gia đình.

Tại Việt Nam, số lượng bệnh nhân tan máu bẩm sinh lớn gây áp lực không nhỏ lên hệ thống y tế, làm quá tải các cơ sở điều trị và ảnh hưởng đến nguồn dự trữ máu. Đồng thời, chi phí điều trị cho bệnh nhân rất cao. Ước tính, để điều trị cho một người mắc thể nặng từ khi sinh ra đến năm 30 tuổi cần khoảng 3 tỷ đồng, và riêng để duy trì sự sống đến năm 21 tuổi phải sử dụng tới 470 đơn vị máu.

Trên quy mô toàn cầu, khoảng 80% bệnh nhân tan máu bẩm sinh sinh sống tại các quốc gia và khu vực có thu nhập thấp và trung bình, nơi điều kiện chăm sóc y tế và dịch vụ hỗ trợ còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên, điều đáng mừng là dù là bệnh lý di truyền nguy hiểm, tan máu bẩm sinh hoàn toàn có thể phòng ngừa được nếu được sàng lọc và phát hiện sớm trước sinh hoặc trước hôn nhân.

Bệnh thalassemia có chữa được không?

Hiện nay, có nhiều phương pháp được áp dụng trong điều trị bệnh tan máu bẩm sinh. Tùy thuộc vào tình trạng và mức độ của bệnh mà bác sĩ sẽ đưa ra chỉ định điều trị phù hợp. Một số phương pháp điều trị cơ bản gồm:

  • Truyền máu: Phương pháp này được áp dụng cho bệnh nhân thiếu máu khi kết quả xét nghiệm cho thấy nồng độ hemoglobin dưới 7g/dl trong hai lần kiểm tra liên tiếp mà không có nguyên nhân khác kèm theo, hoặc trường hợp hemoglobin trên 7g/dl nhưng người bệnh có dấu hiệu biến dạng xương. Quá trình truyền máu phải tuân thủ đúng chỉ định và được theo dõi nghiêm ngặt tại bệnh viện.

  • Thải sắt: Điều trị thải sắt được thực hiện bằng cách sử dụng thuốc tiêm hoặc thuốc uống để loại bỏ lượng sắt dư thừa do truyền máu lâu dài. Chỉ định thải sắt được áp dụng khi nồng độ ferritin trong huyết thanh vượt quá 1000ng/ml. Đây là phương pháp điều trị kéo dài, thường cần duy trì suốt đời.

  • Cắt lách: Được chỉ định trong trường hợp người bệnh đáp ứng kém với truyền máu hoặc khi lách phát triển quá lớn, gây đau đớn và ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

  • Ghép tế bào gốc: Là một phương pháp hiện đại với mục tiêu chữa khỏi bệnh tan máu bẩm sinh. Phương pháp này thường áp dụng cho những bệnh nhân mắc thể nặng. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp là khó tìm được nguồn tế bào gốc phù hợp, và quá trình cấy ghép cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro.

Biện pháp phòng ngừa 

Bệnh tan máu bẩm sinh hoàn toàn có thể phòng tránh được nhờ vào các biện pháp sàng lọc và xét nghiệm trước sinh cũng như kiểm tra tiền hôn nhân.

  • Khám tiền hôn nhân: Các cặp đôi nên tiến hành khám sức khỏe tiền hôn nhân trước khi kết hôn và sinh con. Bên cạnh việc đánh giá sức khỏe sinh sản, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát bệnh tan máu bẩm sinh. Nếu phát hiện một hoặc cả hai người mang gen bệnh, bác sĩ sẽ tư vấn kỹ về nguy cơ di truyền, đồng thời đề xuất các phương án phù hợp giúp sinh ra những em bé khỏe mạnh, không mang gen bệnh.

  • Chăm sóc thai kỳ và sàng lọc trước sinh: Trong quá trình mang thai, thai phụ cần đảm bảo sức khỏe tốt và tuân thủ đầy đủ các mốc khám thai theo chỉ định. Nếu lo ngại em bé có thể mắc bệnh tan máu bẩm sinh, mẹ bầu nên trao đổi với bác sĩ để được chỉ định thực hiện các xét nghiệm cần thiết như chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau nhằm phát hiện sớm tình trạng bất thường về gen.

  • Thụ tinh trong ống nghiệm kết hợp sàng lọc phôi: Đối với các cặp đôi cùng mang gen bệnh, có nguy cơ sinh con mắc bệnh nặng hoặc từng có tiền sử thai lưu do phù thai, bác sĩ có thể tư vấn phương án thụ tinh trong ống nghiệm. Phôi sau khi tạo sẽ được sinh thiết để lựa chọn những phôi khỏe mạnh, không mang gen bệnh trước khi chuyển vào buồng tử cung người mẹ.

Thalassemia là bệnh có thể phòng ngừa hiệu quả nhờ sàng lọc sớm. Biomics Vietnam tự hào mang đến các giải pháp xét nghiệm gen tiên tiến, hỗ trợ các gia đình chủ động bảo vệ sức khỏe và tương lai.

Chia sẻ bài viết
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments
icon_zalo
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x
Call Now Button