Ý nghĩa bộ đôi chỉ số PlGF và sFlt1 trong sàng lọc và tiên lượng tiền sản giật (Quý 1-2-3)

Ý nghĩa bộ đôi chỉ số PlGF và sFlt1 trong sàng lọc và tiên lượng tiền sản giật (Quý 1-2-3)

Tiền sản giật (PE) là bệnh lý nguy hiểm gây tử vong hàng đầu cho mẹ và thai nhi. Nhờ sự phát triển của y học hiện đại, việc sử dụng các chất chỉ điểm sinh học (Biomarkers) như PlGF và sFlt-1 đã tạo ra bước ngoặt lớn trong chẩn đoán, sàng lọc sớm và tiên lượng ngắn hạn bệnh lý này. Dưới đây là phân tích chi tiết chuẩn theo các khuyến cáo quốc tế và quyết định sô 1154/QĐ-BYT ngày 04/05/2024 VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN SÀNG LỌC, CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ TĂNG HUYẾT ÁP Ở PHỤ NỮ MANG THAI, TIỀN SẢN GIẬT VÀ SẢN GIẬT”

Bản chất sinh học PlGF và sFlt-1 là gì?

Tiền sản giật xuất phát từ sự rối loạn hình thành bánh nhau ở giai đoạn sớm, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi bánh nhau và giải phóng các chất gây tổn thương nội mạc mạch máu toàn thân của mẹ. Trong đó, hai chỉ số sinh học then chốt gồm:

  • PlGF (Placental Growth Factor – Yếu tố tăng trưởng bánh nhau): Là yếu tố tân tạo mạch do bánh nhau tiết ra giúp mạch máu tử cung, bánh nhau phát triển khỏe mạnh. Trong thai kỳ bình thường, nồng độ PlGF tăng dần và đạt đỉnh ở tuần 29 – 32. Ngược lại, ở thai phụ bị tiền sản giật, nồng độ PlGF bị suy giảm rõ rệt do bánh nhau thiếu máu.
  • sFlt-1 (Soluble fms-like tyrosine kinase-1): Là yếu tố kháng tạo mạch. Chất này gắn kết và vô hiệu hóa PlGF lẫn VEGF (yếu tố tăng trưởng nội mạc mạch máu). Ở phụ nữ bị tiền sản giật, nồng độ sFlt-1 tăng cao đến rất cao trong máu mẹ trước khi các triệu chứng lâm sàng (tăng huyết áp, protein niệu) xuất hiện từ 5 đến 6 tuần.

Vai trò của PlGF trong sàng lọc Quý 1

Ở Quý 1 thai kỳ, mục tiêu chính là SÀNG LỌC NGUY CƠ để can thiệp dự phòng kịp thời.

Mô hình phối hợp FMF (được các hiệp hội sản khoa quốc tế cũng như Bộ y tế Việt Nam khuyến cáo): Sàng lọc Quý 1 không chỉ dựa vào 1 chỉ số đơn độc, mà kết hợp thuật toán FMF bao gồm:

  • Yếu tố dịch tễ của mẹ (Tuổi, BMI, tiền sử bệnh, chủng tộc…)
  • Huyết áp động mạch trung bình (MAP)
  • Chỉ số trở kháng động mạch tử cung (UtA-PI qua siêu âm Doppler)
  • Nồng độ PlGF trong máu mẹ.

Giá trị can thiệp vàng: Phát hiện sớm thai phụ nguy cơ cao ở Quý 1 cho phép sử dụng Aspirin liều thấp (100 – 150 mg/ngày) trước 16 tuần thai kỳ. Việc này giúp giảm tới 70% – 80% nguy cơ mắc Tiền sản giật khởi phát sớm (<34 tuần) và giảm 62% nguy cơ tiền sản giật nặng.

Tại sao sàng lọc Quý 1 “Nguy cơ thấp” nhưng Quý 2&3 vẫn có nguy cơ/bị tiền sản giật?

Đây là câu hỏi rất phổ biến từ các bác sĩ, các thai vụ và là điểm cần đặc biệt lưu ý trong quản lý thai kỳ.

Tiền sản giật có 4 thể bệnh, trong đó 2 thể bệnh khác nhau về cơ chế

  • Tiền sản giật khởi phát sớm (< 34 tuần): Do tổn thương tái cấu trúc động mạch xoắn từ đầu Quý 1 -> Sàng lọc Quý 1 bắt rất tốt thể này (độ phát hiện > 90%).
  • Tiền sản giật khởi phát muộn (≥ 37 tuần): Chiếm tới 75% tổng số ca bệnh. Thể này chủ yếu do ‘tải trọng chuyển hóa’ của thai lớn vượt quá khả năng nuôi dưỡng của bánh nhau hoặc do lão hóa bánh nhau sinh lý ở Quý 3, không xuất hiện bất thường từ Quý 1.

Bánh nhau và cơ thể mẹ biến đổi liên tục theo tuổi thai

  • Xét nghiệm Quý 1 chỉ phản ánh trạng thái sinh học tại mốc 11 – 13+6 tuần. Khi thai lớn lên, nhu cầu oxy gia tăng, hoặc khi mẹ xuất hiện thêm các yếu tố nguy cơ mới (tăng cân quá nhanh, đái tháo đường thai kỳ, căng thẳng, nhiễm trùng…), bánh nhau có thể bị suy giảm chức năng thứ phát ở giai đoạn sau.

Tỷ lệ bỏ sót sinh lý (Âm tính giả)

  • Không có phương pháp sàng lọc nào đạt độ chính xác 100%. Sàng lọc Quý 1 có độ nhạy cao nhưng vẫn tồn tại tỷ lệ âm tính giả nhất định với các trường hợp khởi phát muộn.

Vai trò của tỷ số sFlt-1/PlGF trong Quý 2 và Quý 3 (Từ tuần 20 trở đi)

Nếu như Quý 1 mang tính chất sàng lọc nguy cơ để dự phòng, thì ở Quý 2 & Quý 3, việc phân tích và tính toán tỷ số sFlt-1/PlGF đóng vai trò tiên lượng, cảnh báo và chẩn đoán tiền sản giật nặng.

Tỷ số sFlt-1/PlGF

Ý nghĩa lâm sàng

Hướng xử trí/Tiên lượng

≤ 38 LOẠI TRỪ Tiền sản giật trong vòng 1 tuần (NPV > 99.3%) Thai phụ nguy cơ rất thấp phát triển PE trong 1-4 tuần tới. Không cần nhập viện, tiếp tục theo dõi định kỳ.
38 – 85 (Thai <34w)

38 – 110 (Thai ≥34w)

NGUY CƠ CAO phát triển Tiền sản giật trong 4 tuần tới Theo dõi sát, đo lại chỉ số sau 1-2 tuần, kiểm tra huyết áp hàng ngày và làm xét nghiệm đạm niệu.
> 85 (Thai <34w)

> 110 (Thai ≥34w)

CHẨN ĐOÁN / CẢNH BÁO PE NẶNG / Biến chứng cấp Nhập viện theo dõi tích cực, đánh giá sức khỏe thai (Doppler), chuẩn bị phương án trưởng thành phổi và chấm dứt thai kỳ nếu cần.

Tý số sFlt-1/PlGF có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, khi tỷ số ≤ 38 sẽ giúp bác sĩ loại trừ tiền sản giật xảy ra trong vòng 1 tuần, với giá trị tiên đoán âm ~100%. Tỷ số >38 giúp bác sĩ đánh giả khả năng có thể xảy ra TSG trong 4 tuần tới với giá trị tiên đoán dương ~32.4%.

Bên cạnh đó, tỷ số sFlt-1/PlGF giúp các bác sĩ phân biệt TSG với các rối loạn tăng huyết áp khác trong thai kỳ, giúp bác sĩ tiên lượng được mức độ nặng của TSG, tiên lượng được kết cục bất lợi cho thai phụ. Và quan trọng nhất, đối với các thai phụ đã được chẩn đoán TSG, tỷ số sFlt-1/PlGF giúp các bác sĩ xác định được thời điểm để chấm dứt thay kỳ, nhằm mang đến 1 kết cục thai kỳ tốt nhất cho mẹ và thai nhi.

Đối tượng phù hợp sử dụng xét nghiệm sFlt-1/PlGF

Xét nghiệm này được chỉ định cho các thai phụ có dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng nghi ngờ tiền giật giật (TSG), và điều quan trọng là không loại trừ các thai phụ từng được đánh giá có nguy cơ thấp ở Quý I.

Cụ thể, các tiêu chí nghi ngờ lâm sàng hoặc dấu hiệu đã xuất hiện bao gồm:

  • Huyết áp & Đạm niệu: Xuất hiện tăng huyết áp (THA) mới hoặc tiến triển nặng hơn, kèm theo đạm niệu (proteinuria) mới xuất hiện hoặc tiến triển.
  • Triệu chứng lâm sàng: Thai phụ có các biểu hiện như đau thượng vị, phù hoặc phù nặng, đau đầu, rối loạn thị giác, hoặc tăng cân đột ngột trong thời gian ngắn.
  • Cận lâm sàng & Siêu âm bất thường: Có bằng chứng xét nghiệm bất thường như giảm tiểu cầu hoặc tăng men gan; có dấu hiệu nghi ngờ thai chậm phát triển trong tử cung (IUGR); hoặc kết quả siêu âm Doppler động mạch tử cung (UtA Doppler) bất thường (≥ 95th percentile)

Lời khuyên thiết thực dành cho bác sĩ và các bác sĩ.

Đối với bác sĩ lâm sàng:

  • Tuân thủ mô hình FMF trong sàng lọc Quý 1 để chỉ định Aspirin đúng thời gian (trước 16 tuần).
  • Sử dụng tỷ lệ sFlt-1/PlGF từ tuần 20 như một công cụ ‘loại trừ’ đáng tin cậy giúp tối ưu hóa chi phí và quản lý nội trú cho thai phụ nghi ngờ TSG hoặc các thai phụ đã được chẩn đoán TSG.
  • Lựa chọn đối tượng phù hợp để xét nghiệm sàng lọc TSG, không loại trừ theo dõi các thai phụ đã Nguy cơ thấp Quý 1.

Đối với thai phụ:

  • Thực hiện sàng lọc Tiền sản giật ngay từ Quý 1 (11 – 13 tuần 6 ngày)
  • Dù Quý 1 nguy cơ thấp, không được chủ quan. Hãy theo dõi huyết áp định kỳ tại nhà và tái khám đúng hẹn ở Quý 2 & 3.
    + Báo ngay cho Bác sĩ nếu có dấu hiệu: Đau đầu dai dẳng, nhìn mờ, sưng phù mặt/tay đột ngột, đau vùng hạ sườn phải….

Nguồn tài liệu tham khảo: Fetal Medicine Foundation (FMF), ACOG, ISSHP, PROFDEM Study.

Chia sẻ bài viết
0 0 votes
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Oldest
Newest Most Voted
Inline Feedbacks
View all comments
icon_zalo
0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x
Call Now Button