Home » Tin tức y khoa » Ý nghĩa bộ đôi chỉ số PlGF và sFlt1 trong sàng lọc và tiên lượng tiền sản giật (Quý 1-2-3)
Tiền sản giật (PE) là bệnh lý nguy hiểm gây tử vong hàng đầu cho mẹ và thai nhi. Nhờ sự phát triển của y học hiện đại, việc sử dụng các chất chỉ điểm sinh học (Biomarkers) như PlGF và sFlt-1 đã tạo ra bước ngoặt lớn trong chẩn đoán, sàng lọc sớm và tiên lượng ngắn hạn bệnh lý này. Dưới đây là phân tích chi tiết chuẩn theo các khuyến cáo quốc tế và quyết định sô 1154/QĐ-BYT ngày 04/05/2024 VỀ VIỆC BAN HÀNH TÀI LIỆU CHUYÊN MÔN “HƯỚNG DẪN SÀNG LỌC, CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ TĂNG HUYẾT ÁP Ở PHỤ NỮ MANG THAI, TIỀN SẢN GIẬT VÀ SẢN GIẬT”
Tiền sản giật xuất phát từ sự rối loạn hình thành bánh nhau ở giai đoạn sớm, dẫn đến tình trạng thiếu máu nuôi bánh nhau và giải phóng các chất gây tổn thương nội mạc mạch máu toàn thân của mẹ. Trong đó, hai chỉ số sinh học then chốt gồm:
Ở Quý 1 thai kỳ, mục tiêu chính là SÀNG LỌC NGUY CƠ để can thiệp dự phòng kịp thời.
Mô hình phối hợp FMF (được các hiệp hội sản khoa quốc tế cũng như Bộ y tế Việt Nam khuyến cáo): Sàng lọc Quý 1 không chỉ dựa vào 1 chỉ số đơn độc, mà kết hợp thuật toán FMF bao gồm:
Giá trị can thiệp vàng: Phát hiện sớm thai phụ nguy cơ cao ở Quý 1 cho phép sử dụng Aspirin liều thấp (100 – 150 mg/ngày) trước 16 tuần thai kỳ. Việc này giúp giảm tới 70% – 80% nguy cơ mắc Tiền sản giật khởi phát sớm (<34 tuần) và giảm 62% nguy cơ tiền sản giật nặng.
Đây là câu hỏi rất phổ biến từ các bác sĩ, các thai vụ và là điểm cần đặc biệt lưu ý trong quản lý thai kỳ.
Nếu như Quý 1 mang tính chất sàng lọc nguy cơ để dự phòng, thì ở Quý 2 & Quý 3, việc phân tích và tính toán tỷ số sFlt-1/PlGF đóng vai trò tiên lượng, cảnh báo và chẩn đoán tiền sản giật nặng.
|
Tỷ số sFlt-1/PlGF |
Ý nghĩa lâm sàng |
Hướng xử trí/Tiên lượng |
| ≤ 38 | LOẠI TRỪ Tiền sản giật trong vòng 1 tuần (NPV > 99.3%) | Thai phụ nguy cơ rất thấp phát triển PE trong 1-4 tuần tới. Không cần nhập viện, tiếp tục theo dõi định kỳ. |
| 38 – 85 (Thai <34w)
38 – 110 (Thai ≥34w) |
NGUY CƠ CAO phát triển Tiền sản giật trong 4 tuần tới | Theo dõi sát, đo lại chỉ số sau 1-2 tuần, kiểm tra huyết áp hàng ngày và làm xét nghiệm đạm niệu. |
| > 85 (Thai <34w)
> 110 (Thai ≥34w) |
CHẨN ĐOÁN / CẢNH BÁO PE NẶNG / Biến chứng cấp | Nhập viện theo dõi tích cực, đánh giá sức khỏe thai (Doppler), chuẩn bị phương án trưởng thành phổi và chấm dứt thai kỳ nếu cần. |
Tý số sFlt-1/PlGF có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, khi tỷ số ≤ 38 sẽ giúp bác sĩ loại trừ tiền sản giật xảy ra trong vòng 1 tuần, với giá trị tiên đoán âm ~100%. Tỷ số >38 giúp bác sĩ đánh giả khả năng có thể xảy ra TSG trong 4 tuần tới với giá trị tiên đoán dương ~32.4%.
Bên cạnh đó, tỷ số sFlt-1/PlGF giúp các bác sĩ phân biệt TSG với các rối loạn tăng huyết áp khác trong thai kỳ, giúp bác sĩ tiên lượng được mức độ nặng của TSG, tiên lượng được kết cục bất lợi cho thai phụ. Và quan trọng nhất, đối với các thai phụ đã được chẩn đoán TSG, tỷ số sFlt-1/PlGF giúp các bác sĩ xác định được thời điểm để chấm dứt thay kỳ, nhằm mang đến 1 kết cục thai kỳ tốt nhất cho mẹ và thai nhi.
Xét nghiệm này được chỉ định cho các thai phụ có dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng nghi ngờ tiền giật giật (TSG), và điều quan trọng là không loại trừ các thai phụ từng được đánh giá có nguy cơ thấp ở Quý I.
Cụ thể, các tiêu chí nghi ngờ lâm sàng hoặc dấu hiệu đã xuất hiện bao gồm:
Nguồn tài liệu tham khảo: Fetal Medicine Foundation (FMF), ACOG, ISSHP, PROFDEM Study.